SỔ TAY LỄ TÂN
Thứ Hai , 13/11/2017
CHƯƠNG III . VĂN KIỆN NGOẠI GIAO

CHƯƠNG III

VĂN KIỆN NGOẠI GIAO

          1. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VĂN KIỆN NGOẠI GIAO

          1.1. Văn kiện ngoại giao thể hiện đường lối đối ngoại của quốc gia.

          Ngoại giao là một cuôc đấu tranh trên trường quốc tế nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia; phục vụ nhiệm vụ đối nội của đất nước được đề ra cho một giai đoạn nhất định và thực hiện đường lối quốc tế của quốc gia mình. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam ghi rõ : “Nhiệm vụ đối ngoại trong thời gian tới là củng cố môi trường hoà bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa để đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân nhân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”[1]

          Văn kiện ngoại giao vừa là phương tiện để thực hiện chính sách đối ngoại đồng thời còn thể hiện cả CSĐN của quốc gia. Văn kiện ngoại giao, dù được thể hiện ở dưới dạng nào, và được đưa ra trong bất cứ bối cảnh nào đều là văn bản chính thức của quốc gia. Với tính chất như vậy, văn kiện ngoại giao phản ánh một cách tập trung và toàn diện nhất đường lối đối ngoại nói chung và lập trường, thái độ nói riêng của quốc gia về một vấn đề hay sự kiện quốc tế cụ thể.

          Khác với những tài liệu khác cũng như lời phát ngôn trong các cuộc tiếp xúc, hội đàm, văn kiện ngoại giao được soạn thảo công phu và có thể in ấn để phổ biến. Do vậy văn kiện ngoại giao là một trong những phương tiện tuyên truyền rộng rãi, bày tỏ rõ ràng đường lối đối ngoại của quốc gia. Chính vì là văn bản viết, văn kiện ngoại giao được cân nhắc, chuẩn bị kỹ lưỡng cho phép tránh được những hiểu lầm về quan điểm, lập trường, thái độ hoặc cách xử lý cụ thể một vấn đề quốc tế.

          Văn kiện ngoại giao, một khi đã được ký kết và công bố sẽ là tài liệu chính thức được phép lưu hành, lưu trữ. Nói cách khác, nó sẽ tồn tại lâu dài và trở thành phương tiện để tra cứu, tham khảo, nghiên cứu đường lối đối ngoại của quốc gia ở một thời kỳ nhất định. Như vậy, văn kiện ngoại giao sẽ được trích dẫn làm luận cứ cho một đề tài hoặc một đánh giá, nhận định về quan hệ quốc tế nói chung và về một quốc gia nói riêng.

          1.2. Thể hiện chủ trương và sách lược ngoại giao về một vấn đề cụ thể

          Văn kiện ngoại giao luôn phản ánh kết quả đấu tranh cả về trí lẫn lực giữa các bên liên quan. Trong quan hệ quốc tế, không bao giờ có sự thống nhất hoàn toàn quan điểm giữa các quốc gia bởi vì quan điểm quốc tế của một quốc gia bao giờ cũng xuất phát từ thế giới quan, nhiệm vụ và nhu cầu đối nội và quyền lợi quốc gia của mỗi nước.

          Ba yếu tố này, trên thực tế không bao giờ trùng khớp giữa các thành viên của cộng đồng quốc tế. Hơn nữa, đàm phán quốc tế để đi đến thoả thuận và ký kết văn kiện ngoại giao luôn luôn bắt nguồn từ những xung khắc về địa-chính trị và quyền lợi. Và đã đàm phán thì phải có cọ sát về quan điểm, mặc cả với nhau rồi đi đến thoả hiệp thì mới có kết quả. Do vậy văn kiện ngoại giao phải thể hiện được quá trình đàm phán, sự nhân nhượng giữa các bên và kết quả của quá trình đó.

          Văn kiện ngoại giao nhìn chung luôn thể hiện tương quan lực lượng giữa các bên liên quan. Thực tế trong quan hệ quốc tế từ đầu thế kỷ 20 đến nay cho thấy không ai có thể giành được trên bàn hội nghị những cái không thể giành được trên chiến trường. Nhìn lại ba Hiệp định quan trọng mà Việt Nam đã ký từ khi nước VNDCCH được thành lập năm 1945: Hiệp định sơ bộ 6/3/1946, Hiệp định Giơnevơ năm 1954 và Hiệp định Pari năm 1973, vấn đề độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam được thể hiện trong 3 văn bản này, phản ánh tương quan lực lượng giữa Việt Nam và Pháp, rồi Mỹ ở thời điểm ký kết hiệp định.

          Trong quan hệ quốc tế, các bên tham gia đàm phán, đôi khi do không đánh giá hết đối phương hoặc không hiểu rõ thực lực của mình đã đẩy đàm phán vào bế tắc hoặc chấp nhận nhân nhượng không có nguyên tắc, gây thiệt hại lớn cho nước mình. Trong trường hợp thứ hai, văn kiện ngoại giao là hệ quả trực tiếp của thoả hiệp vô nguyên tắc. Điều này có thể do lỗi của người đàm phán hoặc của người tham gia soạn thảo văn bản hoặc của cả hai.

          Người đàm phán cũng như người soạn thảo văn bản phải hiểu rõ không chỉ chủ trương đàm phán, ý đồ chiến lược mà cả sách lược ngoại giao của quốc gia mình để thể hiện cho hết và cho đủ trong văn kiện những gì phía mình đồng ý chấp nhận.

          1.3. Văn kiện ngoại giao thể hiện trình độ của cán Bộ Ngoại giao

          Nhân dịp nói chuyện với Hội nghị cán Bộ Ngoại giao năm 1962, Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Văn kiện là sự biểu hiện tập trung của hoạt động ngoại giao và trình độ ngoại giao”. “Nhà kỹ sư biểu hiện trình độ của họ trong các thiết kế, người thợ biểu hiện trình độ trong công việc cụ thể họ làm, nhà ngoại giao phải biểu hiện trong các văn kiện ngoại giao.”

          Thực vậy, văn kiện ngoại giao không chỉ thể hiện đường lối ngoại giao, chủ trương, sách lược ngoại giao mà còn là thước đo phẩm chất chính trị, trình độ hiểu biết và năng lực chuyên môn của cán Bộ Ngoại giao. Chung quy lại con người vẫn là trung tâm của mọi vấn đề bởi vì chỉ với những phẩm chất nêu ở trên, người viết văn kiện mới thể hiện được bằng câu chữ lập trường, thiện chí và chính nghĩa của ta, đối lập với ý đồ, sự tính toán thậm chí cả sự ngoan cố của đối phương.

          Đương nhiên, có nhiều cách đánh giá cán bộ, nhưng văn kiện ngoại giao là một trong những thành phẩm cho phép hiểu một cách toàn diện người cán bộ. Nói như vậy không có nghĩa là mọi cán Bộ Ngoại giao đều phải giỏi trong viết văn kiện mà nói chính xác là cán Bộ Ngoại giao phải hiểu biết văn kiện và tập viết văn kiện từ đơn giản đến phức tạp. Thực tế chứng minh rằng kỹ năng viết là không thể thiếu được đối với người làm công tác đối ngoại.

          2- VĂN KIỆN NGOẠI GIAO DO MỘT BÊN ĐƯA RA

          Đó là các loại văn kiện tự mình có thể chủ động đưa ra và bày tỏ những điều mình muốn nói. Điều đáng lưu ý là khác với các loại văn bản khác, người đứng tên, nội dung văn kiện và thời điểm đưa ra văn kiện đều được tính toán, cân nhắc rất kỹ lưỡng.

          2.1. Diễn văn

          Diễn văn là một bài phát biểu quan trọng được nhà lãnh đạo quốc gia hoặc trưởng đoàn trình bày taị một hội nghị quốc tế hoặc một hoạt động đối ngoại khác. Thể loại, nội dung diễn văn rất khác nhau. Các loại diễn văn thường thấy là:

-      Diễn văn khai mạc

-      Diễn văn bế mạc

-      Diễn văn tham luận

-      Diễn văn của khách mời danh dự

-      Diễn văn cám ơn của Chủ tịch hội nghị

-      Diễn văn chào mừng

          Ở đây chúng tôi chỉ xin giới thiệu cấu trúc diễn văn khai mạc

a)    Chào mừng đại biểu

b)    Chào mừng Chủ tịch hội nghị

c)    Nêu chủ đề hội nghị

d)    Phân tích cơ sở, ý nghĩa và tính khả thi của chủ đề hội nghị

đ) Một số vấn đề quốc tế liên quan đến hội nghị quốc tế được các nước tham gia hội nghị quan tâm

e)    Ý nghĩa của hội nghị

f)     Nêu những nét lớn của chương trình nghị sự

g) Nêu một vài nét về nước chủ nhà: sự đóng góp của nước mình cho tổ chức hoặc phong trào đó, chính sách đối nội, đối ngoại.

h)    Cảm ơn đối với những quốc gia, tổ chức, cá nhân giúp đỡ nước chủ nhà

i)      Chúc hội nghị thành công

          Nhìn chung lại, các loại diễn văn đều có các phần a, b, c, d, f, j. Nếu là diễn văn của các đại biểu, thì trước khi nêu phần b thường cám ơn nước chủ nhà đã chuẩn bị tốt hội nghị và đón tiếp nồng nhiệt các đại biểu.

          Đôi khi thay vì nói đến tình hình quốc tế, các đại biểu nói tới quan hệ của nước họ với nước chủ nhà và sự đóng góp của nước mình vào hội nghị. Thậm chí họ nêu cả ba vấn đề.

Khái quát lại, các loại diễn văn thường có:

- Phần mở đầu: Chào mừng đại biểu, nước chủ nhà, Chủ tịch hội nghị

- Phần nội dung:

                                        + Chủ đề hội nghị

                                        + Các giải pháp, biện pháp

                                        + Những thách thức, khó khăn

                                        + Quan điểm của người phát biểu.

- Phần kết thúc: Chúc hội nghị thành công

          2.2. Tuyên bố đơn phương

          Tuyên bố đơn phương là một văn kiện ngoại giao được đưa ra để bày tỏ quan điểm của mình về một sự kiện quốc tế quan trọng hoặc liên quan trực tiếp đến nước mình. Tuỳ từng mức độ nghiêm trọng của sự kiện, tuyên bố có thể là của người phát ngôn Bộ Ngoại giao, của Bộ Ngoại giao hay của Chính phủ.

          Tuyên bố thường được bố cục như sau:

- Trình bày sự kiện

- Bày tỏ lập trường của mình

- Bác bỏ lập trường của đối phương

- Đưa ra giải pháp hoặc cách xử thế nhằm giải quyết vấn đề hoặc nhằm không làm cho tình hình xấu hơn.

- Kêu gọi các nước ủng hộ mình.

          2.3. Sách trắng

          Sách trắng là loại văn kiện chủ yếu dựa vào sự việc, tập hợp, trích dẫn nhiều loại tài liệu khác nhau cả về chủng loại, lĩnh vực lẫn tác giả.

- Về chủng loại: có thể là di khảo, sách lịch sử, tuyên bố, kết quả nghiên cứu

- Về lĩnh vực: có thể là văn kiện ngoại giao, văn bản pháp luật, tài liệu chính trị

- Về tác giả: có thể là tài liệu của nước mình, của đối phương và của người thứ ba.

          Sự kiện được đề cập tới phải đáp ứng những yêu cầu sau đây của thông tin:

          Ai                : Nguồn thông tin

          Cái gì           : Liên quan đến vấn đề gì

          Khi nào        : Thời gian diễn ra sự kiện: bắt đầu, diễn biến, kết thúc

          Ở đâu           : Không gian và bối cảnh

          Vì sao          : Các loại nguyên nhân khác nhau dẫn tới sự kiện: bên trong và bên ngoài, chính trị, kinh tế, an ninh ...

          Thế nào       : Quá trình diễn biến sự kiện

Tác động của sách trắng tuỳ thuộc vấn đề đề cập đến, các đối tượng liên quan và tính nghiêm túc của các văn kiện trích dẫn và tính xác thưc của các sự kiện.

          Tóm lại, văn kiện ngoại giao do một bên đưa ra thường được chuẩn bị công phu vì không bị thúc ép về thời gian và không qua đàm phán. Nói vậy không có nghĩa là muốn làm gì và làm thế nào cũng được đối với văn kiện ngoại giao do một bên đưa ra. Bên đưa ra văn kiện trước khi quyết định thường vẫn xác định rõ những vấn đề sau:

- Văn kiện thuộc loại nào?

- Ai đứng tên văn kiện?

- Văn kiện trình bày cái gì?

- Trình bày như thế nào?

- Văn kiện nhằm đối tượng nào?

- Tác động của nó ra sao?

          3. VĂN KIỆN NGOẠI GIAO SONG HOẶC ĐA PHƯƠNG KHÔNG KÝ KẾT

          3.1. Tuyên bố

          Tuyên bố hay tuyên ngôn là một văn kiện ngoại giao mang tính chất long trọng do hai hoặc nhiều bên đưa ra, bày tỏ lập trường và thái độ đối với một vấn đề trọng đại. Tuyên bố và tuyên ngôn thường được thông qua bằng hình thức thoả thuận, không nhất thiết phải được ký.

          Những loại tuyên bố thường gặp trong quan hệ quốc tế là:

- Tuyên bố chung: văn kiện do hai bên cùng công bố sau chuyến viếng thăm cấp nhà nước, trình bày những nguyên tắc chỉ đạo quan hệ giữa hai nước và bày tỏ quan điểm của hai bên về những vấn đề quốc tế cùng quan tâm.

- Tuyên bố của hội nghị: do Chủ tịch hoặc toàn thể các bên tham gia hội nghị đưa ra thông báo diễn biến và kết quả mà hội nghị đã đạt được. Đôi khi tuyên bố cũng bày tỏ quan điểm của Chủ tịch hoặc của toàn thể hội nghị về những vấn đề các bên cùng quan tâm, hoặc về vấn đề thời sự nóng hổi.

- Tuyên ngôn là loại văn kiện ngoại giao rất long trọng do các bên đưa ra xác định những nguyên tắc pháp lý cơ bản về một lĩnh vực có tính chất toàn cầu.

          Ví dụ: Tuyên ngôn Thế giới về Quyền con người do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948 công nhận các quyền cơ bản của con người.

          3.2. Chương trình hành động của hội nghị

          Chương trình hành động là văn kiện được các bên tham gia hội nghị thông qua ghi nhận những quyết định của hội nghị, phương hướng hành động và những đề án cụ thể trong thời gian tới.

          Ví dụ: Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 6 họp tại Hà nội năm 1998 thông qua chương trình hành động nhằm cụ thể hoá những mục tiêu của tầm nhìn 2020.

 

          - Hội nghị cấp cao Pháp ngữ lần thứ 7 họp tại Hà nội năm 1997 thông qua chương trình hành động xác định rõ nguyên tắc hợp tác đa phương trong khối Pháp ngữ và những tổ chức chuyên môn tham gia các chương trình hợp tác tổng thể.

          2.3. Thông cáo

          Nhờ những tiến bộ về công nghệ thông tin và phương tiện giao thông đặc biệt là hàng không, các nhà lãnh đạo quốc gia ngày càng tham gia trực tiếp vào các hoạt động đối ngoại. Họ có thể gặp nhau thường xuyên, trao đổi và thống nhất những chính sách, biện pháp nhằm thúc đẩy quan hệ song phương hoặc đa phương. Do không có thời gian để chuẩn bị những văn kiện ngoại giao theo đúng khuôn mẫu quy định và để ký kết một cách long trọng, các bên tham gia hội nghị, hoặc thăm viếng lẫn nhau chỉ đưa ra thông cáo chung trình bày quá trình hội nghị và ghi nhận những kết quả đã đạt được.

          Thông cáo là một văn kiện ngoại giao nhưng không long trọng bằng tuyên bố.

          Các loại thông cáo thường gặp là:

- Thông cáo báo chí: có tính chất song phương sau chuyến thăm của một nhà lãnh đạo quốc gia.

- Thông cáo của Chủ tịch Hội nghị

- Thông cáo của Hội nghị.

          3.4. Nghị quyết

          Văn bản ghi nhận những sự thoả thuận của một hội nghị hay tổ chức quốc tế về một vấn đề nào đó.

          Mỗi một tổ chức quốc tế có quy định riêng về thể thức thông qua nghị quyết. Nhìn chung nghị quyết phải được thảo luận rồi được thông qua bằng hình thức bỏ phiếu. Nghị quyết có thể được thông qua với đa số thường, hay đa số hai phần ba tuỳ thuộc quy định của mỗi tổ chức hoặc hội nghị. Nghị quyết có thể có hoặc không có tính chất bắt buộc tuân thủ.

          Tóm lại, văn kiện ngoại giao song phương hay đa phương không ký kết thường không mang tính ràng buộc về pháp lý, nhưng có ý nghĩa chính trị đặc biệt. Nhìn chung, các bên khi đã chấp nhận nội dung văn bản, thường tuân thủ và thực hiện những cam kết đã được ghi trong văn bản.

          4. ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ

          4.1. Định nghĩa điều ước quốc tế

          Thuật ngữ điều ước quốc tế hay cam kết quốc tế bao gồm các thoả thuận có tính chất bắt buộc dưới bất cứ hình thức nào được ký kết giữa các thành viên của cộng đồng quốc tế: quốc gia có chủ quyền, các tổ chức quốc tế. Điểm chung của các cam kết quốc tế là được thể hiện bằng văn bản.

          Khoản 1, điều 2 Pháp lệnh về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế của Việt Nam có ghi rõ: “Điều ước quốc tế là thoả thuận bằng văn bản được ký kết giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và một hoặc nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc chủ thể khác của pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi như hiệp ước, công ước, định ước, hiệp định, nghị định thư, công hàm trao đổi và danh nghĩa ký kết quy định tại khoản 2 điều 1 của pháp lệnh này”.

Theo Khoản 1, điều 2 Luật Điều ước quốc tế ban hành ngày 9/4/2016:

“Điều ước quốc tế là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với bên ký kết nước ngoài, làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi là hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, thỏa thuận, nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác”.

          Điều ước quốc tế có thể được đàm phán giữa các phái đoàn do các bên uỷ quyền hoặc giữa các cơ quan đại diện ngoại giao với nhau, hoặc giữa các cơ quan đại diện ngoại giao và Chính phủ nước sở tại.

          Sự khác nhau cơ bản giữa điều ước quốc tế và hợp đồng tư nhân là nghĩa vụ quy định trong hợp đồng có thể do một toà án áp đặt và có tính chất cưỡng bức thực hiện dưới sự giám sát của công quyền. Ngược lại, đối với điều ước quốc tế, nhìn chung việc thực hiện và tôn trọng điều ước phụ thuộc vào thiện chí của các bên ký kết, không có tài phán ra quyết định buộc thi hành.

          4.2. Tính chất và nội dung điều ước quốc tế

          Như đã nói ở mục 1, có nhiều loại điều ước quốc tế và tầm quan trọng của nó phụ thuộc vào tính chất và nội dung của văn bản. Trong quan hệ quốc tế, các quốc gia đều quy định cụ thể hoặc trong Hiến pháp, trong luật hoặc trong pháp lệnh đặc biệt danh nghĩa ký kết điều ước quốc tế.

          Điều 1 và điều 4 của Pháp lệnh về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế của Việt Nam quy định rõ các danh nghĩa ký kết điều ước quốc tế của nước ta:

          a) Điều ước quốc tế được ký kết với danh nghĩa nhà nước là điều ước:

- Về hoà bình, an ninh, biên giới, lãnh thổ chủ quyền quốc gia;

- Về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, về tương trợ tư pháp;

- Về các tổ chức quốc tế phổ cập và tổ chức khu vực quan trọng;

- Do các bên thoả thuận.

          b) Điều ước quốc tế được ký kết với danh nghĩa Chính phủ là điều ước:

- Để thực hiện một điều ước quốc tế đã được ký kết với danh nghĩa nhà nước;

- Về các lĩnh vực không được quy định ở khoản 2 (điều 4);

- Về các tổ chức quốc tế và tổ chức khu vực khác;

- Do các bên thoả thuận nhưng không trái với quy định tại khoản 2 (điều 4);

          c) Điều ước quốc tế do Toà tán nhân dân tối cao và Viện kiểm soát nhân dân tối cao ký kết là điều ước “về các lĩnh vực hợp tác quốc tế thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm soát nhân dân tối cao”.

          d) Điều ước quốc tế được ký kết với danh nghĩa Bộ, Ngành là điều ước:

- Để thực hiện một điều ước quốc tế đã được ký kết với danh nghĩa nhà nước hoặc Chính phủ.

- Về lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của Bộ, Ngành trừ trường hợp lĩnh vực đó được quy định tại các khoản 2 và 3 (điều 4)

          4.3. Phân loại điều ước quốc tế

          Trên thực tế, điều ước quốc tế có những tên gọi khác nhau tuỳ thuộc nội dung, đối tượng, tính chất của nó. Để tiện cho việc phân loại, chúng tôi chỉ dựa vào hình thức, tên gọi của văn bản. Do vậy, chúng tôi sẽ phân biệt hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, nghị định thư, công hàm trao đổi.

          Đương nhiên tên gọi khác nhau thì nội dung của từng loại điều ước cũng khác nhau. Song, về mặt pháp lý, người ta không có ý so sánh văn bản này với văn bản kia.

          Trong quá khứ, điều ước quốc tế thường có tính chất song phương. Nhưng từ khi các tổ chức quốc tế bắt đầu được thành lập và nhiều vấn đề nảy sinh có tính chất toàn cầu, các điều ước quốc tế có tính chất đa phương ngày càng được ký kết nhiều.

          Dù đa phương hay song phương, điều ước quốc tế thường có 2 phần:

+ Phần nội dung bao gồm các thoả thuận và cam kết giữa các bên được thể hiện dưới dạng các điều khoản.

+ Phần nghi thức bao gồm các công thức đã được chuẩn hoá ghi ở phần đầu hoặc phần cuối văn bản liên quan đến các thể thức pháp lý, hành chính của văn bản và tư cách của người ký được uỷ quyền đàm phán.

          4.3.1. Hiệp ước:

          Hiệp ước là điều ước quốc tế do hai hoặc nhiều bên ký kết, trong đó ghi rõ những cam kết có tính long trọng nhất của các bên về các vấn đề chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá.

          Hiệp ước thường bao gồm các phần sau:

- Tên hiệp ước thường ghi rõ điều ước liên quan đến lĩnh vực nào. Ví dụ ở Hiệp ước hữu nghị và hợp tác, Hiệp ước Liên minh.

- Lời mở đầu gồm các điều sau:

+ Ghi đầy đủ các quốc gia hoặc nguyên thủ quốc gia ký kết hiệp ước.

+ Ghi tên những người được ủy quyền

+ Ghi rõ những người này có đầy đủ thẩm quyền để đại diện quốc gia          mình chấp nhận mọi cam kết ghi trong hiệp ước.

- Nội dung văn bản được thể hiện dưới dạng các điều khoản được đánh số thứ tự ghi rõ:

+ Những cam kết của các bên ký kết

+ Ngày giờ hiệp ước bắt đầu có hiệu lực

+ Thời hạn của hiệp ước

+ Nơi trao đổi thư phê chuẩn

- Phần kết của hiệp ước ghi rõ:

          + Người được uỷ quyền đã ký hiệp ước và đóng dấu

          + Số lượng bản của hiệp ước

+ Ngôn ngữ sử dụng để soạn thảo hiệp ước và mức độ giá trị của từng ngôn ngữ.

+ Địa điểm và thời gian ký kết hiệp ước.

          4.3.2. Công ước

          Công ước là một điều ước quốc tế được ký giữa hai hay nhiều quốc gia hoặc tổ chức quốc tế để giải quyết một vấn đề cụ thể thuộc một lĩnh vực nào đó (pháp luật, ngoại giao, khoa học) khẳng định quyền, nghĩa vụ của các bên hoặc xác lập những quy tắc xử sự trong quan hệ giữa các bên.

          Ví dụ:

- Công ước Viên về quan hệ ngoại giao ký năm 1961

- Công ước Viên về quan hệ lãnh sự ký năm 1963

          Tuỳ tầm quan trọng của vấn đề được đề cập trong văn bản. Công ước có thể ghi hoặc không ghi thời hạn và mở ra cho các chủ thể khác tham gia.

          Công ước thường bao gồm các phần sau:

- Tên công ước

- Lời mở đầu thường ghi:           “Các nước tham gia công ước

                                                            Lưu ý rằng ............................

                                                            Nhận thức rằng .....................

                                                            Tin tưởng rằng .....................

                                                            Khẳng định rằng .................

                                                            đã thoả thuận những điều sau”

- Phần nội dung công ước bao gồm các điều khoản liên quan đến lĩnh vực công ước đề cập.

- Phần kết của công ước quy định:

+ Cách thức phê chuẩn, thực hiện, gia nhập công ước, hiệu lực công ước.

          + Nơi lưu chiểu

           + Ngôn ngữ sử dụng

          + Địa điểm, ngày tháng soạn thảo công ước

- Chữ ký của các bên.

          4.3.3. Hiệp định

          Hiệp định là một điều ước quốc tế thông dụng nhất được ký kết giữa hai hoặc nhiều bên về các vấn đề chính trị, kinh tế, quân sự, văn hoá học về các mặt khác trong đời sống quốc gia và quốc tế.

          Hiệp định có thể là song phương hoặc đa phương, có thể được phê chuẩn, phê duyệt hoặc không, tuỳ thuộc theo sự thoả thuận giữa các bên ký kết.

          Cũng như hiệp ước, hiệp định bao gồm:

- Tên hiệp định

- Lời mở đầu

- Nội dung hiệp định được trình bày dưới dạng điều khoản

- Phần kết của hiệp định

          Hai hiệp định quốc tế song phương quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam là:

+Hiệp định Giơnevơ ký ngày 21/7/1954 xác định thắng lợi của cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp

          + Hiệp định Pari ký ngày 27/1/1973 chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam, buộc Mỹ rút quân và tạo tiền đề cho đại thắng mùa xuân năm 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam.

          4.3.4. Định ước

          Định ước là một văn kiện ngoại giao được viết theo một công thức thông qua tại một hội nghị quốc tế ghi nhận những kết quả mà hội nghị đã đạt được.

          Ví dụ: Định ước của Hội nghị quốc tế về Việt Nam do 12 nước ký ngày 01/3/1973 tại Pari nhằm xác nhận và thực hiện sự bảo đảm quốc tế đối với các điều khoản của Hiệp định Pari chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam ký ngày 27/1/1973. Định ước được soạn thảo bằng 5 thứ tiếng (Việt, Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc) gồm lời nói đầu và 9 điều khoản.

          4.3.5. Nghị định thư

          Nghị định thư là một văn kiện ngoại giao ghi nhận những quyết định được thông qua, những kết quả đạt được trong một hội nghị quốc tế hay hoạt động ngoại giao khác.

          Nghị định thư không nhất thiết phải được soạn thảo theo một công thức chặt chẽ như một hiệp ước hay hiệp định mà theo thoả thuận giữa các bên. Nghị định thư có thể được ký kết.

          Ví dụ: Hàng năm Việt Nam ký nghị định thư tài chính với một số nước nhằm xác định các hình thức và dự án cụ thể liên quan đến viện trợ tài chính của nước đó dành cho Việt Nam.

          4.3.6. Công hàm trao đổi

          Trong quan hệ quốc tế, nhiều thoả thuận ít quan trọng có thể được ký kết dưới dạng trao đổi công hàm giữa các bên. Cụ thể là đại diện của một Chính phủ gửi cho bên hữu quan một công hàm trong đó trình bày các kiến nghị hợp tác soạn thảo dưới dạng điều khoản và kết thúc bằng câu:

          “Nếu những điều khoản nêu trên được chấp thuận, chúng tôi xin đề nghị phía ngài gửi thư khẳng định. Hai lá thư trao đổi giữa hai bên chúng ta sẽ là hiệp định giữa hai Chính phủ và có hiệu lực kể từ ngày ....”

          Thư trả lời sẽ là: “Trong thư đề ngày ............. Ngài đã thông báo cho chúng tôi biết những điều khoản sau đây: (sao chép lại toàn bộ nội dung thư trên)

          Tôi xin vinh dự khẳng định với ngài rằng Chính phủ...... hoàn toàn chấp nhận những đề nghị trên”.

          4.4. Ký kết điều ước quốc tế

          Ký kết điều ước quốc tế là một quá trình bao gồm “những hành vi pháp lý từ đàm phán, ký, phê chuẩn, phê duyệt hoặc gia nhập đến khi điều ước quốc tế có hiệu lực”. Bên ký kết điều ước quốc tế là các quốc gia có chủ quyền, các tổ chức quốc tế hoặc các chủ thể khác của pháp luật quốc tế.

          Nhìn chung, ký kết điều ước là một hành vi tự nguyện, không bị ép buộc dưới bất cứ hình thức nào, bình đẳng ngang hàng nhau. Bởi vậy, mọi chủ thể ký kết hiệp ước đều quy định rõ những nguyên tắc đối với việc họ chấp thuận ký kết điều ước quốc tế.

          4.4.1. Nguyên tắc ký kết

- Mọi điều ước quốc tế được ký kết phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của mỗi quốc gia, bình đẳng và cùng có lợi.

- Những điều ước này phải phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế và các quy định của Hiến pháp nước mình.

          Hiện nay, do các quốc gia ngày càng tham gia, ký kết nhiều điều ước quôc tế, nên một số nước cần quy định rõ nếu nội luật, thậm chí cả Hiến pháp có những điều khoản không phù hợp với điều ước quốc tế mà nước đó ký kết thì phải tiến hành sửa đổi và bổ sung nội luật và Hiến pháp. Ví dụ điển hình là các nước thành viên trong Liên minh châu Âu phải tiến hành sửa đổi Hiến pháp để phù hợp với hiệp ước Am-xtéc-đam về việc xây dựng đồng tiền chung châu Âu.

          Các quốc gia thường ký kết điều ước quốc tế với nhiều danh nghĩa khác nhau: Nhà nước, Chính phủ, Bộ ngành v.v.... Do vậy, ký kết điều ước quốc tế phải tuân thủ thứ bậc đã được quy định. Và điều ước quốc tế được ký kết với danh nghĩa ở cấp thấp không được trái với điều ước quốc tế được ký kết với danh nghĩa ở cấp cao hơn.

          4.4.2. Đề xuất đàm phán và ký kết điều ước quốc tế

          Các quốc gia đều quy định rõ trong Hiến pháp hoặc bằng một văn bản pháp lý cụ thể:

- Cơ quan nào có quyền đề xuất đàm phán và ký điều ước quốc tế

- Thể thức đề xuất đàm phán và ký

- Nội dung của văn bản đề xuất đàm phán và ký.

          Khoản 1,2,3 Điều 5 của Pháp lệnh về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế của Việt Nam quy định rõ vai trò, trách nhiệm của Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp và các Bộ chủ quản trong việc đề xuất đàm phán và ký điều ước quốc tế và cách thức xử lý nếu điều ước quốc tế có điều khoản trái hoặc chưa được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội và Uỷ ban thường vụ quốc hội ban hành.

          Riêng khoản 4 Điều 5 quy định cụ thể các nội dung cần phải đề cập trong văn bản đề xuất đàm phán và ký.

          4.4.3. Uỷ quyền đàm phán và ký kết điều ước quốc tế

          Mỗi quốc gia có quy định riêng của mình về thẩm quyền quyết định việc đàm phán và ký điều ước quốc tế và thẩm quyền đàm phán và ký kết điều ước quốc tế không cần giấy uỷ quyền.

          Giấy uỷ quyền là “văn kiện của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ định người đại diện quốc gia mình thực hiện một hay nhiều hành vi pháp lý liên quan đến việc ký kết điều ước quốc tế”. Nói cách khác, giấy uỷ quyền có thể bao gồm cả quyền đàm phán ký hoặc chỉ có một trong hai quyền nêu trên.

          Theo pháp lệnh về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế của ta, thẩm quyền quyết định việc đàm phán và ký kết điều ước quốc tế tương ứng với danh nghĩa ký kết. Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao không cần giấy uỷ quyền khi đàm phán và ký kết điều ước quốc tế. Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Thủ trưởng Bộ, Ngành không cần giấy uỷ quyền khi đàm phán và ký kết điều ước quốc tế với danh nghĩa Bộ, Ngành mình. Người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao hoặc phái đoàn đại diện thường trực bên cạnh các tổ chức quốc tế không cần giấy uỷ quyền khi đàm phán văn bản điều ước quốc tế, nhưng phải có giấy uỷ quyền khi ký.

          4.4.4. Phê chuẩn, phê duyệt, gia nhập điều ước quốc tế

          Mọi quốc gia đều quy định rõ bằng văn bản pháp luật việc phê chuẩn, phê duyệt và gia nhập điều ước quốc tế. Cụ thể là ai quyết định phê chuẩn, hoặc phê duyệt, và thể thức như thế nào? Những điều ước quốc tế mà nào phải phê chuẩn, phê duyệt hoặc gia nhập khi thấy cần thiết.

          Thư phê chuẩn, phê duyệt hoặc gia nhập là những văn bản chính thức được ký và đóng dấu trong đó người có thẩm quyền tuyên bố phê chuẩn, phê duyệt hoặc gia nhập những điều khoản của điều ước quốc tế đã được người được uỷ quyền đối vơí 2 loại đầu và cam kết thực hiện điều ước đó. Thư phê chuẩn, phê duyệt hoặc gia nhập được trao đổi tại thủ đô của quốc gia được chỉ định lưu chiểu văn bản nêú là điều ước đa phương, tại thủ đô của quốc gia không diễn ra kễ ký nếu là điều ước song phương. Lễ trao đổi thư sẽ được ghi nhận bằng văn bản.

          * Phê chuẩn:

          Theo pháp lệnh về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế của Việt Nam, phê chuẩn là “hành vi pháp lý do Quốc hội hoặc Chủ tịch nước thực hiện, chấp nhận hiệu lực của điều ước quốc tế đã ký với nước Cộng hoà XHCN Việt Nam”.

          Theo Điều 10 của Pháp lệnh này, có 4 loại điều ước phải được phê chuẩn:

- Được ký kết với danh nghĩa nhà nước

- Có điều khoản trái hoặc chưa được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước.

- Liên quan đến ngân sách nhà nước theo đề nghị phê chuẩn của Chính phủ.

- Có điều khoản quy định phê chuẩn.

          Chủ tịch nước quyết định bằng văn bản phê chuẩn điều ước quốc tế, trừ trường hợp cần Quốc hội quyết định.

          * Phê duyệt:

          Phê duyêt là “hành vi pháp lý do Chính phủ thực hiện, chấp nhận hiệu lực của điều ước quốc tế đã ký” đối với nước mình.

          Theo điều 11 Pháp lệnh đã nêu, phê duyệt điều ước quốc tế thuộc thẩm quyền Chính phủ. Những điều ước quốc tế phải được phê duyệt là những điều ước được ký kết với danh nghĩa Chính phủ, hoặc Bộ, Ngành, có điều khoản quy định phê duyệt hoặc có điều khoản trái hoặc chưa được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ.

          * Gia nhập:

          Gia nhập là “hành vi pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện, chấp nhận hiệu lực của điều ước quốc tế nhiều bên” đối với nước mình.

          Chủ tịch nước Việt Nam quyết định việc gia nhập điều ước quốc tế nhiều bên với danh nghĩa nhà nước, điều ước quốc tế nhiều bên có điều khoản trái hoặc chưa được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội hay Uỷ ban thường vụ Quốc hội và những điều ước quốc tế nhiều bên có quy định phê chuẩn, trừ trường hợp cần trình Quốc hội quyết định.

          Chính phủ Việt Nam quyết định việc gia nhập các điều ước quốc tế nhiều bên khác.

          4.4.5. Ngôn ngữ và hình thức văn bản điều ước quốc tế

          Trong trường hợp song phương, điều ước thường được soạn thảo bằng hai thứ tiếng của hai nước ký kết trừ trường hợp có sự thoả thuận khác giữa các bên ký kết.

          Trong trường hợp đa phương, điều ước có thể được soạn thảo bằng nhiều thứ tiếng. Điều quan trọng là phải ghi rõ văn bản nào sẽ được sử dụng khi có tranh chấp hoặc giải thích khác nhau. Điều này rất quan trọng bởi vì khi thực hiện hoặc viện dẫn điều ước, thường xảy ra những trái ngược nhau về văn bản.

          Đối với hình thức của văn bản, theo quy định của Việt Nam, văn bản điều ước quốc tế ký với danh nghĩa nhà nước, Chính phủ phải được gắn xi, đóng dấu nổi của Bộ Ngoại giao nếu ký ở trong nước hoặc của cơ quan đại diện ngoại giao nếu ký ở nước ngoài trừ trường hợp có thoả thuận khác giữa các bên ký kết.

          Mỗi quốc gia được nhận một văn bản gốc nếu là điều ước quốc tế hai bên và văn bản chính thức nếu là điều ước nhiều bên, có chữ ký và dấu nổi của tất cả các bên ký kết.

          4.4.6.  Hiệu lực của điều ước quốc tế

          Nhìn chung, sau khi tiến hành trao đổi thư phê chuẩn, điều ước quốc tế sẽ có hiệu lực đúng như điều ước quy định.

          4.4.7. Bảo lưu điều ước quốc tế

          Bảo lưu là tuyên bố đơn phương của một nước đưa ra khi ký, phê chuẩn, phê duyệt hoặc gia nhập điều ước quốc tế nhiều bên, nhằm loại trừ hay thay đổi hệ quả pháp lý của một hoặc một số quy định trong điều ước quốc tế khi áp dụng đối với nước mình.

          Mọi quốc gia đều có thể bảo lưu và rút bảo lưu đối với một vài điều khoản của điều ước. Điều khoản được bảo lưu phải được ghi rõ trong văn kiện phê chuẩn, phê duyệt hoặc gia nhập.

          4.5. Công bố điều ước quốc tế

          Điều ước quốc tế thường được công bố trên công báo hoặc trên các phương tiện truyền thông đại chúng, trừ phi có thoả thuận khác giữa các bên ký kết hoặc của một bên.

          Theo Pháp lệnh đã trích dẫn, Bộ Ngoại giao quản lý, lưu trữ bản gốc điều ước quốc tế đã ký kết và các văn kiện khác có liên quan, thực hiện chức năng lưu chiểu điều ước nếu Việt Nam được chỉ định là quốc gia lưu chiểu.

          Ngoài ra Bộ Ngoại giao có chức năng tiến hành đăng ký tại Ban thư ký Liên hợp quốc hoặc các tổ chức quốc tế khác điều ước mà Việt Nam tham gia.

          4.6. Thực hiện điều ước quốc tế

          4.6.1. Tuân thủ và thực hiện: Các bên ký kết phải nghiêm chỉnh tuân thủ và thực hiện điều ước mà mình đã ký kết. Muốn vậy, các bên đều phải chuẩn bị về mọi mặt như tổ chức, quản lý, tài chính và đặc biệt là pháp lý. Nếu điều ước có điều khoản trái hoặc chưa được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật thì quốc gia ký phải tiến hành sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới.

          4.6.2. Sửa đổi, bổ sung hoặc gia hạn: Mọi điều ước quốc tế đều có thể sửa đỏi, bổ sung hoặc gia hạn. Cơ quan nào có thẩm quyền quyết định đàm phán, ký thì cũng có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hoặc gia hạn điều ước đã được phê chuẩn hoặc phê duyêt.

          4.6.3. Đình chỉ hiệu lực và bãi bỏ điều ước quốc tế

          Đình chỉ hiệu lực là tuyên bố của một quốc gia về tạm ngừng thực hiện toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế đã ký kết.

          Bãi bỏ là tuyên bố của một quốc gia về từ bỏ hiệu lực của điều ước quốc tế đã ký kết.

          Đình chỉ hiệu lực hoặc bãi bỏ một điều ước quốc tế xảy ra trong các trường hợp cụ thể sau:

- Điều ước đó có điều khoản quy định việc đình chỉ hoặc bãi bỏ.

- Các nguyên tắc ký kết điều ước bị vi phạm nghiêm trọng

- Bên ký kết vi phạm nghiêm trọng điều ước.

          Cấp nào có thẩm quyền quyết định phê chuẩn, gia nhập hoặc quyết định đàm phán và ký điều ước thì cũng có quyền đình chỉ hiệu lực và bãi bỏ điều ước.

          4.6.4.  Giải thích nội dung điều ước quốc tế

          Khi có sự hiểu khác nhau về nội dung điều ước, các bên ký kết đều dành cho mình quyền giải thích điều ước.

          Giải thích không chỉ xác định một cách chính xác ý nghĩa của văn bản mà còn xác định phạm vi, giơí hạn áp dụng điều ước cả về không gian, thời gian và pháp lý.

          Thẩm quyền giải thích điều ước tuỳ thuộc vào quy định của mỗi quốc gia.

          Theo Pháp lệnh về ký kết thực hiện điều ước của ta, Uỷ ban thường vụ Quốc hội của Việt Nam giải thích điều ước được Quốc hội phê chuẩn và điều ước có điều khoản trái hoặc chưa được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật của ta. Chính phủ giải thích điều ước được ký kết với danh nghĩa Nhà nước và Chính phủ. Các điều ước khác được ký với danh nghĩa cấp nào thì cấp đó có nhiệm vụ giải thích.

(Trích tài liệu tập huấn năm 2017 của FOSET – BNG)

(Xin mời xem tiếp Chương IV. Soạn thảo văn kiện ngoại giao)

 

 



[1] Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 8 - NXB Chính trị quốc gia 1996. Tr.120



Tin nổi bật.........................................................................................................
CHƯƠNG TRÌNH VUI TẾT THIẾU NHI 01/6 ( 05/06 )
Thực hiện cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" ( 04/06 )
Đoàn sĩ quan trẻ Quân đội Nhân dân Lào tham quan, học tập kinh nghiệm và giao lưu tại Đắk Lắk ( 31/05 )
Đắk Lắk: tham gia chương trình "Gặp gỡ Châu Âu" ( 29/05 )
Lễ viếng, truy điệu, an táng 12 hài cốt liệt sỹ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh tại Campuchia về nước ( 18/05 )
UBND tỉnh làm việc với Đoàn công tác Hội đồng xúc tiến trao đổi hợp tác hữu nghị Jeollabuk – Việt Nam ( 17/05 )


Các tin đã đăng.............................................
CÔNG VĂN LỄ TÂN, HÀNH CHÍNH ( 08/11 )
CÔNG VĂN VÀ VĂN KIỆN NGOẠI GIAO ( 07/11 )
Sở Ngoại vụ với công tác đón tiếp khách quốc tế đến tham dự Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột ( 08/05 )
KỂ CHUYỆN TÀI NGOẠI GIAO CỦA BÁC HỒ ( 02/08 )
Nghi thức dự tiệc thế nào? ( 21/05 )
Chiêu đãi ngoại giao ( 21/05 )
Các vấn đề cơ bản trong đón tiếp khách nước ngoài ( 21/05 )
Bắt tay và Giới thiệu ( 21/05 )
‘Tôi xin mách một vài mẹo nhỏ’ ( 21/05 )
Ông Vũ Khoan và những chuyện ngoại giao cười ra nước mắt ( 21/05 )
TÌM KIẾM
HỘP THƯ GÓP Ý
THÔNG TIN CẦN BIẾT
Hanh chinh cong
Lịch làm việc của lãnh đạo
Chính phủ
Bộ ngoại giao
Khiếu nại tố cáo
Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk
can ho the park avenue can ho Sunrise Riverside vinhomes riverside biet thu vinhomes riverside biệt thự vinhomes riverside