SỔ TAY LỄ TÂN
Thứ Ba , 14/11/2017
CHƯƠNG IV SOẠN THẢO VĂN KIỆN NGOẠI GIAO

CHƯƠNG IV

SOẠN THẢO VĂN KIỆN NGOẠI GIAO

          Soạn thảo văn kiện ngoại giao là một trong những công việc khó nhất của người làm công tác đối ngoại bởi vì nó biểu hiện tập trung quan điểm chính trị, năng lực chuyên môn, trình độ hiểu biết về mọi mặt của người cán bộ.  Văn kiện ngoại giao rất chặt chẽ về câu chữ, rõ ràng về lập trường, rành mạch về ý định. Có thể nói không có gì là vô tình trong văn kiện ngoại giao. Song, như đã nói ở các phần trên, văn kiện ngoại giao bao gồm nhiều thể loại khác nhau và mỗi thể loại có yêu cầu riêng của nó. Do vậy, những ý kiến nêu ra dưới đây liên quan đến soạn thảo văn bản chỉ có tính chất gợi ý.

          1. NHỮNG NGUYÊN TẮC CHỈ ĐẠO

          1.1. Xác định rõ mục đích yêu cầu của văn kiện

          Mục đích yêu cầu của văn kiện là vấn đề then chốt cần được quán triệt ngay khi có ý định soạn thảo văn kiện. Điều trước tiên cần làm là xác định chủ đề của văn kiện. Văn kiện sẽ đề cập đến vấn đề gì, tính chất, mức độ, phạm vi của nó sẽ như thế nào? Từ đó, ta sẽ chọn lựa thể loại văn kiện, phù hợp với chủ đề và bối cảnh đưa ra văn kiện; đồng thời cả quan hệ giữa người đưa ra văn kiện và người nhận. Việc làm tiếp theo là quyết định danh nghĩa người đưa ra văn kiện: Chính phủ, Bộ Ngoại giao hay cấp thấp hơn?

          Tương tự như vậy, ta cần xác định người nhận văn kiện. Trong hoạt động quốc tế, đôi khi đối tượng trực tiếp nhận văn kiện lại không phải là đối tượng cần tuyên truyền, thuyết phục mà lại là đối tượng gián tiếp. Đó chính là dư luận chung. Chỉ có xác định rõ đối tượng trực tiếp và gián tiếp thì ta mới lường trước được mức độ tác động của văn kiện. Giải thích và thuyết phục là một biện pháp hữu hiệu để hướng dư luận ủng hộ mình. Muốn giải thích, thuyết phục dư luận, phải cung cấp đầy đủ thông tin cho họ; thông tin sẽ liên quan đến nguyên nhân, diễn biến sự việc, chính sách cần theo đuổi, thái độ của đối phương.

          Đối tượng nhận văn kiện liên quan đến cách thức đưa ra văn kiện. Nếu ta muốn cho dư luận rộng rãi biết không chỉ những gì diễn ra, mà cả quan điểm của các bên thì văn kiện sẽ được đưa ra công khai. Ngược lại, các bên hoặc một bên thấy rằng vì quyền lợi của các bên hoặc để tránh sự hiểu lầm của bên thứ ba, văn kiện sẽ được trao đổi giữa các bên theo con đường bí mật.

          Tóm lại, xác định mục đích yêu cầu văn kiện có tầm quan trọng hàng đầu và không chấp nhận bất cứ sai lầm nào, dù là nhỏ.

1.2. Nắm vững quan điểm, đường lối của nhà nước mình

          Như đã nói ở phần 1 chương III, văn kiện ngoạigiao một mặt thể hiện đường lối đối ngoại của quốc gia, mặt khác phản ánh chủ trương và sách lược ngoại giao về một vấn đề cụ thể. Muốn vậy, người viết văn kiện phải quán triệt sâu sắc quyết sách chính trị của lãnh đạo cấp cao nhất, hiểu thấu đáo được sách lược, chiến thuật của ta đối với mức độ nêu ra vấn đề và những nhượng bộ cần thiết.

          Quan điểm, đường lối cũng như sách lược ngoại giao phải được thể hiện ở mọi khâu của văn kiện: tinh thần văn kiện, nội dung, bố cục và cách diễn đạt văn kiện. Tính đa nghĩa và sự mập mở của ngôn ngữ, dù là tiếng Anh, tiếng Pháp hay bất cứ thứ tiếng nào, cho phép người nói cũng như người viết thể hiện một cách uyển chuyển ý đồ của mình: Viết cái gì? Mức độ nào? Viết cho ai và vì sao? Trong bối cảnh nào? Đôi khi, do tài viết của mình, người viết văn kiện thể hiện kết quả đạt được cao hơn mức thoả thuận ban đầu.

          1.3. Xây dựng nội dung văn kiện

          Nắm vững quan điểm đường lối, xác định mục đích yêu cầu văn kiện là điều quan trọng hàng đầu, nhưng điều đó chỉ phụ thuộc một bên. Còn nội dung văn kiện trước hết là văn kiện do các bên cùng đưa ra hay ký kết thì phải thông qua đàm phán, mặc cả. Đây là cả một quá trình gay go và phức tạp thể hiện rõ bản chất năng lực của các bên tham gia.

          Nếu văn kiện liên quan đến những vấn đề rất cụ thể và dù có thuộc lĩnh vực pháp lý, kinh tế, khoa học hay kỹ thuật thì nội dung văn kiện khá rõ ràng, dễ thể hiện. Đó thường là những hiệp định khung quy định nghĩa vụ, quyền lợi giữa các bên và không thể được giải thích một cách tuỳ tiện.

          Khi nội dung văn kiện có tính chất chính trị, vấn đề sẽ hoàn toàn khác. Trước hết, đối với những điểm không gay cấn, các bên dễ đồng ý đưa vào văn kiện và thống nhất cả cách diễn đạt. Ngược lại, những điểm liên quan đến quyền lợi quốc gia, ý thức hệ, cách nhận thức, tiếp cận vấn đề sẽ phải mặc cả để đi đến nhân nhượng. Có hay không có một chi tiết trong văn kiện, vị trí của điểm này hay điểm kia trong văn kiện đều có ý nghĩa của nó. Ví dụ, trong Hiệp định Pari, ta đã buộc Mỹ phải chấp nhận ghi các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam tại điều 1, chương I. Lúc đầu Mỹ không đồng ý, nhưng sau phải buộc chấp nhận.

          Đôi khi, đối với một vài điểm, mặc dù các bên đã nhân nhượng, vẫn không dễ gì diễn đạt thành văn: trong trường hợp đó các bên đành phải sử dụng từ ngữ có tính chất công thức, hay diễn đạt mập mờ và để các bên tuỳ định liệu khi thi hành.

          Đối với một vài văn kiện như tuyên bố chung, thông cáo, nếu các bên không thống nhất với nhau, thì cách tốt nhất là văn kiện đành phải ghi lại quan điểm của từng bên một.

          1.4. Cách thể hiện văn kiện

          Dù có tinh tế đi bao nhiêu chăng nữa, không ngôn ngữ nào có thể lột tả hết ý nghĩa của con người. Như đã trình bày ở trên, nếu chỉ quy định nghĩa vụ và quyền lợi của các bên như một hợp đồng mua bán, thì không có gì đáng nói. Â'y thế nhưng diễn đạt những nhân nhượng về chính trị thì không hề dễ dàng chút nào. Ý nghĩa của một văn kiện không chỉ nằm ở nghĩa đen của từ ngữ mà còn nằm ở khoảng trống giữa các từ ngữ. Thậm chí, cái không viết hay nói ra lại quan trọng hơn cái được viết ra. Hoặc, những điều không được nói tới trong văn kiện, mới thể hiện quan điểm của các bên. Xa hơn nữa, đôi khi người ta còn phải hiểu ngược lại những gì được viết ra công khai.

 

          Khi soạn thảo một văn kiện có tính chất chính trị bao gồm những thể nhân nhượng của các bên liên quan, người soạn thảo phải chú ý:

- Khuôn khổ chung của văn kiện bao gồm tên văn kiện và phần mở đầu.

- Cấu trúc văn kiện bao gồm các phần, chương, điều, đoạn.

- Các chi tiết của văn kiện.

          Trong văn kiện ngoại giao, không có gì là vô tình, ngẫu nhiên. Mức độ trong sáng hay mập mờ của từ ngữ đều là có chủ ý. Điểm này được diễn đạt trước điểm kia là do tính toán của người viết. Bỏ qua một chi tiết, lưu ý một sự việc đều có ý nghĩa của nó.

          1.5. Nắm bắt được sự mong đợi của dư luận

          Đối với văn kiện ngoại giao, luôn luôn có hai đối tượng mà người đưa ra văn kiện muốn nhằm vào. Đó là người trực tiếp nhận văn kiện và dư luận.

          Trên thực tế khó có thể thuyết phục được đối phương của mình. Đối phương chấp nhận một giải pháp đều xuất phát từ quyền lợi quốc gia, tương quan lực lượng và mức độ gây sức ép của dư luận, chứ không phải là tự nguyện hay thừa nhận mình sai lầm.

          Đối tượng cần thuyết phục chính là dư luận. Do vậy, khi đưa ra một văn kiện, người viết phải biết:

          + Dư luận mong muốn gì

          + Họ có thiện cảm hay chống đối ta?

          + Họ có quan tâm đến vấn đề ta nêu ra không? Nếu có thì mức độ ra sao?

          Muốn trả lời được những câu hỏi đó, cần phải theo dõi và tổng kết dư luận, nắm bắt được xu thế, trào lưu chung về xã hội học trong quan hệ quốc tế. Đương nhiên dư luận khác với chính giới. Họ không đồng nhất, dễ thay đổi, dễ thuyết phục và sẵn sàng chấp nhận đối thoại.

          Tóm lại, văn bản nói chung, văn kiện ngoại giao nói riêng đều có hai phần : ý và lời. Ý là cốt lõi linh hồn của văn kiện ngoại giao, lời là phương tiện để thể hiện ý. Mọi văn kiện ngoại giao nếu không có ý hoặc ý không đúng với đường lối, chủ trương đều có tác dụng xấu, thậm chí là nguy hại. Ngược lại, lời không diễn đạt được ý, thậm chí còn phản lại ý thì chỉ tạo ra một văn kiện không có giá trị, gây tác hại không nhỏ. Vì vậy, người viết văn kiện ngoại giao phải rèn luyện cả về ý lẫn lời. Hơn thế nữa, người viết văn kiện còn phải biết viết văn kiện cho ai và họ muốn gì ở ta.

          Người viết văn kiện cần phải có những tiêu chuẩn sau:

- Nắm vững và biết vận dụng một cách khôn khéo đường lối, chính sách của quốc gia mình.

- Am hiểu vấn đề mà văn kiện đề cập tới

 

- Thấy rõ được tình hình trong nước và các xu thế trên trường quốc tế liên quan đến vấn đề đang được đề cập.

- Có kiến thức có bản và hệ thống về quan hệ quốc tế

- Có khả năng viết văn.

          2. NGÔN NGỮ VÀ DỊCH THUẬT

          Văn kiện ngoại giao đặc biệt là các điều ước quốc tế nhiều bên thường được soạn thảo bằng nhiều thứ tiếng. Đối với Việt Nam, ngôn ngữ văn kiện ngoại giao và dịch thuật là vấn đề rất quan trọng vì tiếng Việt không phải là tiếng thông dụng quốc tế. Trên thực tế, cán bộ làm đối ngoại của ta thường phải trực tiếp sử dụng tiếng nước ngoài hoặc thông qua phiên dịch.

          Sử dụng trực tiếp tiếng nước ngoài hoặc dịch văn kiện đòi hỏi người cán bộ phải thông thạo không chỉ tiếng mẹ đẻ mà cả ngoại ngữ. Thông thạo ngoại ngữ trong ngôn từ ngoại giao là phải có khả năng diễn đạt đầy đủ bằng ngoại ngữ:

- Quan điểm của người nói

- Nội dung thông điệp

- Các tâm trạng, ý định lúc mập mờ, lúc đưa đẩy, lúc rõ ràng

          Giỏi ngoại ngữ không chỉ am hiểu ngoại ngữ, mà phải hiểu cả văn hoá, phong tục tập quán của dân tộc nói thứ tiếng đó.

          Trong đàm phán quốc tế, soạn thảo văn bản nói chung và dịch thuật nói riêng, dù đã chuẩn bị kỹ, vẫn thường gặp những khó khăn không lường trước. Những khó khăn đó ở cả góc độ ý, lời và hiểu văn bản.

- Ở góc độ ý, người viết hoặc dịch không hiểu đúng hoặc hết ý của cấp trên. Hoặc họ diễn đạt sai quan điểm, đường lối, hoặc không thể hiện được sách lược, chiến thuật ngoại giao. Nguyên nhân là người viết hoặc dịch yếu kém về nhận thức, kinh nghiệm nghề nghiệp.

- Ở cấp độ hành văn, những nguyên nhân dẫn đến khó khăn là:

+ Không có các từ tương ứng giữa các ngôn ngữ

+ Cách hành văn không trùng khớp nhau giữa các ngôn ngữ

- Ở góc độ hiểu văn bản:

+ Cách hiểu văn bản khác nhau

+ Các phiên dịch viên không thống nhất với nhau về cách diễn đạt, từ ngữ

          3. KHUYẾN NGHỊ

          Văn bản ngoại giao nói chung, điều ước quốc tế nói riêng, khi được soản thảo phải nói rõ:  văn bản liên quan đến những đối tượng nào? Nghĩa vụ của các bên ký ra sao? Cụ thể là phải thẩm định kỹ những điểm sau:

- Phạm vi lãnh thổ thực hiện áp dụng điều ước

- Thời hạn điều ước

- Khả năng bãi bỏ điều ước, được quy định hay không quy định trong văn bản

- Thời hạn không được bãi bỏ điều ước

- Thời điểm có thể bãi bỏ điều ước

- Thời điểm có hiệu lực của điều ước

- Phê chuẩn điều ước

- Ngôn ngữ sử dụng

- Thể thức phải tuân thủ trong trường hợp có sự giải thích khác nhau về nội dung văn bản.

 (Trích tài liệu tập huấn năm 2017 của FOSET – BNG)

(Xin mời xem tiếp Chương V. Những hiệp định ngoại giao đã ký kết)

 



Tin nổi bật.........................................................................................................
BAN HỢP TÁC VIỆT NAM – LIÊN BANG NGA LÀM VIỆC TẠI TỈNH ( 12/12 )
Thông cáo báo chí về lựa chọn Biểu trưng chính thức của Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột ( 26/11 )
Thông báo thi tuyển chức danh Giám đốc trung tâm Dịch vụ đối ngoại ( 20/11 )
Kế hoạch thi tuyển chức danh Giám đốc Trung tâm Dịch vụ đối ngoại ( 20/11 )
Chương trình Quảng bá địa phương Việt Nam tại Nhật Bản 2018 ( 09/11 )
UBND tỉnh chào xã giao Đại sứ Thụy Sỹ tại Việt Nam ( 08/11 )


Các tin đã đăng.............................................
CHƯƠNG III . VĂN KIỆN NGOẠI GIAO ( 13/11 )
CÔNG VĂN LỄ TÂN, HÀNH CHÍNH ( 08/11 )
CÔNG VĂN VÀ VĂN KIỆN NGOẠI GIAO ( 07/11 )
Sở Ngoại vụ với công tác đón tiếp khách quốc tế đến tham dự Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột ( 08/05 )
KỂ CHUYỆN TÀI NGOẠI GIAO CỦA BÁC HỒ ( 02/08 )
Nghi thức dự tiệc thế nào? ( 21/05 )
Chiêu đãi ngoại giao ( 21/05 )
Các vấn đề cơ bản trong đón tiếp khách nước ngoài ( 21/05 )
Bắt tay và Giới thiệu ( 21/05 )
‘Tôi xin mách một vài mẹo nhỏ’ ( 21/05 )
TÌM KIẾM
HỘP THƯ GÓP Ý
THÔNG TIN CẦN BIẾT
Lịch làm việc của lãnh đạo
Chính phủ
Bộ ngoại giao
Khiếu nại tố cáo
Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk