SỔ TAY LỄ TÂN
Thứ Tư , 15/11/2017
CHƯƠNG V NHỮNG HIỆP ĐỊNH NGOẠI GIAO ĐÃ KÝ KẾT

CHƯƠNG V

NHỮNG HIỆP ĐỊNH NGOẠI GIAO ĐÃ KÝ KẾT

          Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử Việt Nam, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Từ khi ra đời đến nay, nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, trước kia là nước Việt Nam DCCH đã đàm phán và ký kết ba hiệp định liên quan đến các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam. Đó là Hiệp định sơ bộ 6-3-1946, Hiệp định Giơnevơ 1954 và Hiệp định Pari 1973. Ba Hiệp định này không chỉ ghi tạc chiến thắng của nhân dân ta trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc mà còn công nhận nguyên tắc các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân các nước. Lẽ đương nhiên ba hiệp định đó được đàm phán và ký kết ở những thời điểm khác nhau, nhưng nó đều thể hiện nghệ thuật đàm phán, phương pháp luận ngoại giao Việt Nam, đồng thời cũng chứng minh tính đúng đắn của chiến lược giành thắng lợi từng bước, tiến tới thắng lợi hoàn toàn trên mặt trận ngoại giao.

          1. Hiệp định sơ bộ 6-3-1946.

          Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời và nhân dân cả nước đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt nam Dân chủ Cộng hoà. Trong Tuyên ngôn bất hủ này, Hồ Chủ Tịch đã nói rõ - nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời khi mà Nhật đầu hàng Đồng minh, Vua Bảo Đại thái vị và trong lúc Pháp không còn cai trị Việt Nam nữa. Người đã đặc biệt khẳng định "nước Việt Nam có quyền hưởng tự do, độc lập và sự thật đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

          Ngay sau khi ra đời, nước Việt Nam dân chủ đã phải đương đầu với tình thế thù trong giặc ngoài như ngàn cân treo sợi tóc. Để tránh phải đối đầu cùng một lúc chống lại hai kẻ thù Pháp, Tưởng và đẩy lùi chiến tranh không bùng nổ sớm nhằm xây dựng và củng cố lực lượng, Đảng ta đã chủ trương "hoà để tiến" và Hiệp định sơ bộ là thành quả của chủ trương đó.

          Xem xét Hiệp định dưới góc độ văn bản, chúng tôi xin đưa ra một số nhận xét sau:

          1. Tên Hiệp định là Hiệp định Sơ bộ, được viết rất ngắn gọn nhưng liên quan đến nhứng vấn đề cốt tử trong quan hệ quốc tế. Đó là độc lậpthống nhất của một dân tộc, dân tộc Việt Nam. Đương nhiên hai từ ngữ này không xuất hiện trong văn bản vì Pháp khăng khăng không chấp nhận nhưng nội dung, tinh thần và ý nghĩa của nó đã được thể hiện ở các điều khác nhau của Hiệp định.

- Pháp công nhận Việt Nam là "một quốc gia tự do", có Chính phủ, nghị viện, quân đội, tài chính riêng (điều 1).

- Pháp cam kết công nhận kết quả trưng cầu dân ý sẽ được tổ chức về sự thống nhất của nước Việt Nam.

          2. Về thời điểm ký kết, chỉ khi quân Pháp và quân Tưởng đã bắn nhau ở Hải Phòng, Hồ Chủ Tịch mới đưa ra những đề nghị cuối cùng để đi đến ký kết hiệp định, tạo cơ sở pháp lý cho quân Pháp đổ bộ lên miền Bắc và tránh được cuộc chiến tranh Pháp - Tưởng mà hậu quả của nó sẽ rất xấu đối với nước ta.

          3. Hiệp định là mẫu mực về sự nhân nhượng có nguyên tắc. Nhờ hiệp định đó, ta đã "tránh được tình thế bất lợi, bảo toàn thực lực, giành giây phút nghỉ ngơi ...., nhân cơ hội tốt tiến lên giai đoạn cách mạng mới".

          Nếu Hiệp định chỉ ghi nhận Việt Nam là một "quốc gia tự do", thì mặt khác các định chế của quốc gia đã được ghi rõ thể hiên chủ quyền của quốc gia đó. Ta chấp nhận trưng cầu dân ý về sự thống nhất đất nước.  Ngược lại, Pháp phải cam kết công nhận kết quả trưng cầu dân ý mà ta chắc chắn là sẽ giành thắng lợi nếu nó diễn ra (điều 1).

          Hiệp định này không dừng lại ở những nhượng bộ ban đầu của hai bên mà còn ghi rõ là sẽ có những cuộc đàm phán tiếp theo liên quan đến "quan hệ ngoại giao Việt Nam với các nước, quy chế sau này của Đông Dương và quyền lợi kinh tế văn hoá của Pháp ở Việt nam" (điều 3).

          Đây là hiệp định quốc tế đầu tiên do ta hoàn toàn chủ động đàm phán và ký kết. Nó phản ánh sự thoả thuận và nhượng bộ của cả hai bên, đặc biệt sự đóng góp quan trọng của Việt Nam. Hành văn, câu chữ của hiệp định thể hiện ý đồ của hai bên.

          2. Hiệp định Giơnevơ

          Các hiệp định Giơnevơ về Việt Nam gồm 4 loại điều khoản liên quan đến:

          - Đình chỉ chiến sự và lập lại hoà bình

          - Duy trì và củng cố hoà bình

          - Tổng tuyển cử để thống nhất đất nước

          - Tổ chức thi hành hiệp định.

          Những điều khoản trên được trình bày trong 2 văn bản: Hiệp định đình chỉ chiến sự về Việt Nam, và Bản Tuyên bố cuối cùng. Ở đây, chúng tôi chỉ xin phân tích một số điểm của Tuyên bố cuối cùng.

          Tuyên bố cuối cùng gồm phẩn mở đầu và 13 mục. Phần mở đầu ghi rõ ngày tháng, chủ đề của hội nghị và kể tên các nước tham dự. Cụ thể, Tuyên bố ghi rõ hội nghị "về vấn đề lập lại hoà bình ở Đông Dương".

          Mục 1 ghi nhận 2 nội dung cơ bản của các Hiệp định đình chiến ở Việt Nam, Lào, Campuchia. Đó là đình chỉ chiến sự và tổ chức kiểm soát quốc tế và giám sát việc thi hành hiệp định. Mục 4,5 liên quan đến việc cấm đưa quân đội, vũ khí nước ngoài vào ba nước và ba nước không tham gia các khối liên minh quân sự, hoặc cho phép thành lập các căn cứ quân sự trên lãnh thổ của mình. Đặc biệt điều 6 đã quy định rõ "giới tuyến quân sự chỉ có tính chất tạm thời, hoàn toàn không thể coi là một ranh giới về chính trị hay lãnh thổ". Như vậy ta có nhân nhượng về vị trí địa lý của giới tuyến quân sự (ta chấp nhận vĩ tuyến 17) nhưng không hề nhượng bộ về tính chất của nó.

          Về các vấn đề chính trị, có hai điểm đáng chú ý. Thứ nhất là Tuyên bố cuối cùng cũng như tuyên bố của Chính phủ Pháp đều ghi rõ các nước tham gia hội nghị thừa nhận và cam kết tôn trọng "độc lập chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ" của ba nước Đông Dương và tuyệt đối không can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, Lào, Campuchia (mục 7,11,12). Thứ hai là tổng tuyển cử ở Việt Nam được ấn định vào tháng 7/1956 nhằm tiến tới thống nhất đất nước (mục 7).

          Rõ ràng là các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam, Lào, Campuchia không chỉ được thừa nhận trong một điều ước quốc tế mà các nước còn cam kết tôn trọng các quyền đó, mặc dù " do tình hình quốc tế có những diễn biến phức tạp và so sánh lực lượng đó, Hiệp định Giơnevơ cũng làm hạn chế nhất định thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Lào và Campuchia". Sau Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946, Hiệp định Giơnevơ là một thắng lợi cơ bản của ta trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

          3. Hiệp định Pari

          Hiệp định Pari gồm văn bản do hai bên ký trong đó lời nói đầu và điều 23 ghi đủ tên bốn chính phủ và văn bản hiệp định cùng nội dung và lời văn do bốn bên ký trong đó:

          Lời nói đầu chỉ ghi "Các bên tham gia hội nghị Pari đã thoả thuận, cam kết tôn trọng và thi hành điều khoản sau đây ...."

          Điều 23: Hiệp định sẽ có hiệu lực khi đại diện toàn quyền của các bên tham gia Hội nghị Pari về Việt Nam ký ....

 

          Hiệp định bao gồm lời mở đầu, và 9 chương với 23 điều. Kèm theo Hiệp định có 5 nghị định thư và 8 hiểu biết (understanding)

          Này 27/1/1973, Hiệp định đã được bốn bên ký chính thức vào buổi sáng và hai bên vào buổi chiều tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Klêbe- Pari, chấm dứt cuộc đàm phán kéo dài 4 năm 8 tháng.

          So với Hiệp định Giơnevơ, Hiệp định Pari quy định trong cùng một văn bản tất cả các vấn đề: đình chiến, rút quân đội Mỹ và nước ngoài ra khỏi miền Nam Việt Nam, trao đổi tù binh, chính quyền ở miền Nam và quan hệ giữa hai miền. Đặc biệt các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam được ghi ở điều 1, điều duy nhất ở chương I.

          Mỗi chương của Hiệp định đề có tên gọi riêng và liên quan đến một vấn đề cụ thể. Sau chương I ghi rõ các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam.

Chương II     : Chấm dứt chiến sự - rút quân

Chương III    : Việc trao đổi nhân viên quân sự bị bắt, thường dân nước ngoài bị bắt và nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ                                            

Chương IV   : Việc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam

Chương V    : Vấn đề thống nhất nước Việt Nam và vấn đề quan hệ           giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam.

Chương VI   : Các ban liên hợp quân sự, Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát - Hội nghị quốc tế.

Chương VII  : Đối với Lào và Campuchia

Chương VIII : Quan hệ giữa Việt nam Dân chủ Cộng hoà và Hoa Kỳ

Chương IX   : Những điều khoản khác.

          Hiệp định hai lần nhắc đến hai vấn đề cơ bản được ghi trong Hiệp định Giơnevơ: một lần về các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam (chương I điều 1) và một lần về giới tuyến quân sự tạm thời (chương V, điều 15a). Đây là hai vấn đề then chốt mà ta không bao giờ nhân nhượng và buộc Mỹ phải thừa nhận không chỉ trong Hiệp định Pari mà cả đối với Hiệp định Giơnevơ, hiệp định mà Mỹ không tôn trọng ngay sau khi kết thúc hội nghị. Ngoài ra, Hiệp định Giơnevơ còn được nhẵc tới hai lần nữa tại chương III điều 8b về trao đổi các nhân viên quân sự Việt nam bị bắt và giam giữ ở miền Nam Việt Nam và tại chương V điều 15d về việc không cho phép nước ngoài có căn cứ quân sự ở Việt Nam. Như vậy Hiệp định Pari là sự tiếp nối của Hiệp định Giơnevơ nhưng ở mức độ cao hơn cả về pháp lý lẫn chính trị. Trong Hiệp định có những vấn đề được quy định một cách rõ ràng, không thể hiểu khác được về thời điểm, thời hạn và tính chất của nó như việc ngừng bắn, rút quân đội nước ngoài ra khỏi miền Nam Việt Nam... Ngược lại cũng có vấn đề được quy định chỉ về nguyên tắc như thống nhất nước Việt Nam (chương V điều 15), lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam (chương V điều 13), vấn đề Mỹ đền bù chiến tranh. Như vậy Hiệp định đã phản ánh gần sát chủ trương của hai bên là giải quyết các vấn đề quân sự và xác định một số nguyên tắc về các vấn đề chính trị trước, rồi bước sau Chính phủ Cách mạng Lâm thời và Sài Gòn giải quyết các vấn đề chính trị nội bộ miền Nam.

          Hiệp định Pari phản ánh lập trường của các bên và là kết quả của một cuộc đàm phán, mặc cả lâu dài và gian khổ. Với chủ trương của ta giải quyết theo hai bước, Hiệp định Pari đã được ký kết mở ra một cục diện mới, tạo ra so sánh lực lượng có lợi cho ta đưa đến thắng lợi trọn vẹn mùa xuân 1975.

(Trích tài liệu tập huấn năm 2017 của FOSET – BNG)

                                   

 



Tin nổi bật.........................................................................................................
Thông cáo báo chí về lựa chọn Biểu trưng chính thức của Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột ( 26/11 )
Thông báo thi tuyển chức danh Giám đốc trung tâm Dịch vụ đối ngoại ( 20/11 )
Kế hoạch thi tuyển chức danh Giám đốc Trung tâm Dịch vụ đối ngoại ( 20/11 )
Chương trình Quảng bá địa phương Việt Nam tại Nhật Bản 2018 ( 09/11 )
UBND tỉnh chào xã giao Đại sứ Thụy Sỹ tại Việt Nam ( 08/11 )
Đoàn công tác tỉnh Đắk Lắk thăm và làm việc tại tỉnh Jeollabuk (Hàn Quốc) ( 01/11 )


Các tin đã đăng.............................................
CHƯƠNG IV SOẠN THẢO VĂN KIỆN NGOẠI GIAO ( 14/11 )
CHƯƠNG III . VĂN KIỆN NGOẠI GIAO ( 13/11 )
CÔNG VĂN LỄ TÂN, HÀNH CHÍNH ( 08/11 )
CÔNG VĂN VÀ VĂN KIỆN NGOẠI GIAO ( 07/11 )
Sở Ngoại vụ với công tác đón tiếp khách quốc tế đến tham dự Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột ( 08/05 )
KỂ CHUYỆN TÀI NGOẠI GIAO CỦA BÁC HỒ ( 02/08 )
Nghi thức dự tiệc thế nào? ( 21/05 )
Chiêu đãi ngoại giao ( 21/05 )
Các vấn đề cơ bản trong đón tiếp khách nước ngoài ( 21/05 )
Bắt tay và Giới thiệu ( 21/05 )
TÌM KIẾM
HỘP THƯ GÓP Ý
THÔNG TIN CẦN BIẾT
Lịch làm việc của lãnh đạo
Chính phủ
Bộ ngoại giao
Khiếu nại tố cáo
Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk